Giáo Xứ Chánh Tòa Mỹ Tho
Chương III. Chương II khép lại ở một pháp trường tháng 4 năm 1861; chương này mở ra một tháng sau đó, cách mười hai cây số, trong một ngôi chùa bỏ hoang bên chợ — rồi ba lần dựng nhà thờ và mười sáu đời cha sở, đến ngôi thánh đường trên đại lộ Hùng Vương hôm nay.
Hai chương trước đứng ở trên cao nhìn xuống: Chương I kể một Giáo hội trải hai ngàn năm và hai trăm sáu mươi bảy đời Giáo hoàng, Chương II kể một vùng đất trải ba thế kỷ đức tin. Chương này thì ngược lại — nó chỉ kể một ngôi nhà thờ, và kể thật kỹ. Cùng một biến cố, nhìn từ hai độ cao khác nhau, cho hai câu chuyện khác nhau: ở Chương II, năm 1861 là năm Cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu tử đạo và họ đạo Ba Giồng tan tác; ở chương này, năm 1861 là năm những người sống sót của cuộc tan tác ấy dựng lên một cộng đoàn mới bên bờ sông. Cùng một năm, cùng một dòng người, hai câu chuyện.
Nếu bạn muốn biết vì sao lại có cuộc bách hại đó, vì sao có Ba Giồng và ai là Cha Lựu, hãy đọc Chương II — Lịch sử Giáo Phận Mỹ Tho trước. Còn nếu bạn đã đọc rồi, thì đây là chỗ câu chuyện tiếp tục: từ đây trở đi mọi thứ đều đo được bằng mét, đếm được bằng sổ rửa tội, và có ngày tháng ghi trong báo cáo của các cha thừa sai.
Bản báo cáo viết tay của Cha thừa sai Renier, hiện lưu trữ tại Toà Tổng Giám mục Sài Gòn, mở đầu lịch sử họ đạo bằng một câu dứt khoát: “Trước năm 1861 chưa có cộng đoàn công giáo Mỹ Tho.” Chỉ có những người Công giáo bị lính An Nam giam giữ trong đồn — họ thuộc bổn đạo Thủ Ngữ, Ba Giồng hay các họ đạo khác. Trong số tù nhân ấy có một cụ già tám mươi tuổi, Cha Thiềng, một linh mục Việt Nam.
Cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu vừa từ Mặc Bắc đổi về Ba Giồng, cách Mỹ Tho khoảng 12 km, và được phép vào đồn thăm Cha Thiềng. Người giúp việc tên Danh trao cho Cha Lựu bức thư của Cha Thiềng. Rủi thay ngài lỡ tay đánh rơi. Lính nhặt được, báo lên xếp; ông này đòi xem thư rồi hỏi ngài là ai. Ngài đáp:đạo trưởng. Ngài bị tống ngục và bị kết án tử hình vì không chịu chối đạo và bước qua thập giá. Bản báo cáo còn đính chính một chi tiết mà người sau hay nhầm: Cha Lựu bị chém đầu vào tháng tư, không phải ở chỗ Cha Moulins về sau dựng cây thập giá bằng đá granit đối diện lò gạch trên đường đi Sài Gòn, mà ngay bên cạnh cổng vào lò gạch. (Để hiểu rõ hơn về cuộc tử đạo và vai trò của Cha Lựu trong lịch sử Giáo phận, xem bài Lịch sử Giáo Phận Mỹ Tho.)
Tháng 5 năm 1861 người Pháp chiếm Mỹ Tho. Từ lúc đó, nhiều người Công giáo ở các tỉnh đồng bằng tìm về Mỹ Tho ẩn náu dưới lá cờ Pháp để tránh sự bách hại của triều đình An Nam. Cộng đoàn hình thành từ đó.
Cha Bề Trên Guillou là cha sở đầu tiên của họ đạo mới này. Nhà thờ khi ấy là một ngôi chùa cũ nằm bên cạnh chợ; Đô đốc Charner đã cho họ đạo ngôi chùa này để dùng làm nơi thờ phượng dưới sự che chở của Thánh quan thầy Phanxicô Xaviê. Ngôi nhà thờ ấy làm bằng tranh, do một linh mục Việt Nam là Cha Phiên — cha phó của Cha Guillou — trông coi. Đối diện nhà thờ là ngôi nhà tranh của Cha Marc, mà giáo dân quen gọi là Cha Thanh: trước kia ngài là thừa sai ở Bắc Kỳ, nhưng được tách ra để làm thông dịch cho chính quyền Pháp.
Cuối năm 1861, vì lo sợ cuộc bách hại sẽ ập tới dòng nữ tu Việt Nam ở Bãi Xan, Cha Guillou ra lệnh cho nhà dòng đến tá túc ở Mỹ Tho. Nhà của các chị được cất bằng tranh, gần nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê.
Cha Guillou rời Mỹ Tho và được thay thế bởi Cha Gernot, nhận nhiệm sở ngày 28 tháng 01 năm 1862. Vào lúc này họ đạo Mỹ Tho có 1.986 giáo dân. Riêng trong năm 1861 đã có 2.250 lượt người xưng tội và 207 em rước lễ.
Cha Gernot ở Mỹ Tho khoảng hai năm rồi đổi đi Cái Mơn vào khoảng đầu năm 1864, dẫn theo các chị em nữ tu dòng Bãi Xan. Cũng trong năm 1864, các sơ dòng Thánh Phaolô đến thế chỗ các sơ Việt Nam vừa ra đi, ở ngay nơi các nữ tu Mến Thánh Giá để lại. Mẹ Bề Trên đầu tiên của các sơ người Pháp ở Mỹ Tho là sơ Lizion. Chính trong năm 1864 đã khởi sự có các trường để giáo dục thanh thiếu niên nam nữ, do các sơ coi sóc, ngoài ra còn có một cô nhi viện.
Từ năm 1862 đến 1864 không có tài liệu trực tiếp nào về hoạt động của họ đạo. Nhưng theo bản báo cáo của Cha Marc năm 1865, có thể kết luận rằng các cha Pháp và Việt Nam ở Mỹ Tho không hề rảnh rỗi. Họ đạo Mỹ Tho khi ấy gồm các cộng đoàn Bình Tạo, Điều Hòa, Chợ Cũ và có lẽ cả Vĩnh Tường; bốn nơi này làm thành họ đạo Thánh Phanxicô Xaviê ở Mỹ Tho. Ngoài ra còn Xoài Mút cách 7 km về phía tây, Thủ Ngữ 7 km, Tân Xuân 5 – 6 km, Họ Giồng tức Ba Giồng khoảng 15 km, Trấn Định tức Tân Hiệp, Vũng Gù tức Tân An, và Rạch Chanh qua khỏi Tân An.
Vùng Mỹ Tho: Bình Tạo 646 giáo dân · Điều Hòa 743 · Chợ Cũ 57 · Xoài Mút 68 · Thủ Ngữ 384 · Tân Xuân 148. Số người lớn rửa tội năm 1865: 121.
Họ Giồng (Ba Giồng): Họ Giồng 393 · Trấn Định 21 · Vũng Gù 47 · Rạch Chanh 9. Người lớn rửa tội: 30.
Con số cho thấy quy mô thật của “vùng Mỹ Tho” thời ấy: một địa hạt trải rộng chứ không phải một giáo xứ. Điều Hòa và Bình Tạo đông hơn cả trung tâm Mỹ Tho.
Nhà tranh không còn đủ cho một họ đạo đang lớn. Năm 1866, Đức cha Miche long trọng đặt viên đá xây dựng một ngôi nhà thờ kiên cố. Nhưng tường mới cao chừng một mét thì công việc phải ngưng, và suốt nhiệm kỳ của mình Cha Marc vẫn phải dâng lễ trong một nhà nguyện lợp lá. Ngài qua đời năm 1870 mà chưa thấy ước nguyện thành sự.
Cha Sorel về Mỹ Tho năm 1870. Vốn có kiến thức kiến trúc — trước đó ngài đã dựng ở Thủ Dầu Một một ngôi nhà thờ gạch mà các sĩ quan công binh Pháp đánh giá cao — ngài nghiên cứu đồ án, xin ngân khoản, mua vật liệu, thuê thợ, rồi trực tiếp có mặt trên công trường chỉ huy thợ nề thợ mộc, nhiều khi cầm bay làm việc như một người thợ lành nghề. Tường lên đủ độ cao, mái đã lợp, ngài đang làm mặt tiền và cung thánh thì sức lực phản bội: ngã bệnh nặng, ngài phải sang nhà hưu Hồng Kông rồi về Nice, qua đời ngày 26/02/1873.
Việc hoàn tất được giao cho Cha Moulins — khó tìm được đôi tay khéo hơn. Suốt ba năm ngài vừa lo được nguồn kinh phí vừa lần lượt làm thợ chạm, thợ mộc, thợ trang trí, đưa công trình gian nan ấy đến đích. Ngày 12 tháng 03 năm 1876, Đức cha Colombert làm phép trọng thể ngôi nhà thờ Mỹ Tho. Đại tá hải quân lục chiến Trève, các quan cai trị hạt, sĩ quan và công chức, toàn thể binh sĩ đồn trú, các Sư huynh Lasan và các Nữ tu Thánh Phaolô cùng học sinh, và toàn thể giáo dân đều có mặt.
Dài 42 m, rộng 18 m, cao 36 m. Lòng chính rộng 9,40 m; hai lòng bên 4,30 m; mỗi gian 4,60 m. 32 cột Corinthiên cao 8 m đỡ các thức cột rời nối nhau bằng những vòm cuốn có trang trí; trần vòm cuốn, kiểu thùng ở lòng chính và giao nhau ở hai lòng bên. Toàn bộ phào chỉ và hoa văn đắp bằng vữa stuc kiểu Hoa, cứng và đẹp như đá. Các đầu cột lá phiên thảo, hoa văn vòm trần, bàn thờ và lan can đều do một người thợ Hoa đắp tay tại chỗ bằng chiếc bay nhỏ. 16 cửa sổ kính màu; cửa kính hậu cung có sáu huy hiệu kể các mầu nhiệm chính của đạo.
Tư liệu Pháp gọi đơn giản là “église de Mytho”, tư liệu Việt quen gọi là nhà thờ Vĩnh Tường, kính Thánh Tâm — cùng một ngôi.
Năm 1877, họ đạo đã có bộ máy mục vụ đầy đủ: 4 Sư huynh Lasan dạy 150 học sinh; 5 Nữ tu Thánh Phaolô coi trường nữ và một cô nhi viện 70 – 75 em; 4 nữ tu khác chăm 40 – 45 bệnh nhân ở bệnh viện bản xứ; và 3 nữ tu phục vụ quân y viện trong thành.
Số giáo dân tăng đều suốt thời kỳ ổn định. Sổ họ đạo ghi: 1881 – 1882 có 3.651 người, gồm 330 người Âu châu và 3.321 người Việt Nam. 1895 – 1896: 462 người Âu, 912 người Việt — rồi cùng năm ấy 55 người Âu, 1.013 người Việt. Năm 1895 Bà Phó Vàng dâng 500 đồng để cất lại nhà nguyện Thánh Anna đã cũ ở đất thánh. 1897 – 1903: người Âu trên dưới 100, người Việt trên dưới 1.000. Năm 1897, báo cáo thường niên của Hội Thừa Sai ghi Mỹ Tho là lỵ sở một địa hạt gần 4.000 giáo dân, 19 họ đạo, do 8 linh mục coi sóc.
Năm 1903, theo lời kêu gọi của chính quyền, các sơ Phaolô đến làm y tá cho nhà thương cùi ở Cù Lao Rồng — 3 sơ Pháp và 2 sơ Việt Nam, chăm trung bình từ 180 đến 200 người cùi.
Rồi đến khúc ngoặt lạ lùng nhất trong lịch sử ngôi thánh đường — may thay chính Cha Renier đã chép lại bằng ngôi thứ nhất. Năm 1903 ngài được phép cất một căn nhà gần nhà thờ và vào khoảng tháng 9 năm ấy thì dọn vào ở.
Ngày 3 tháng 1 năm 1904, theo lệnh Đức Giám mục Monard và của chính quyền địa phương, vì sợ một ngày nào đó ngôi nhà thờ đã suy yếu sẽ sụp đổ, ngài cho hạ ngôi nhà thờ. Công việc cần đến ba tuần lễ. Rồi điều này xảy ra — nguyên văn lời ngài: “May thay ngày 1 tháng 5 năm 1904, một cơn bão khủng khiếp tàn phá tỉnh Mỹ Tho đã làm đổ nhào sườn nhà mà một số cây đang trong tình trạng mục nát. Cơn bão đã hạ nhà thờ thay bàn tay con người.” Trường học cách đó không xa cũng bị thiệt hại nặng nề; nhà trẻ và các trường được chuyển về nhà thờ Vĩnh Tường.
Trường học không còn gần nhà xứ nữa, và người Công giáo trong khu vực cũng dần bỏ đi. Đức Giám mục khuyên ngài đến ở trong nhà xứ Vĩnh Tường, gần nhà thờ Thánh Tâm do Cha Faron xây; ngày 18 tháng 3 năm 1905 ngài thực hiện lời khuyên này. Nhưng nhà thờ Thánh Tâm cũng xuống cấp trầm trọng vì cơn bão 1904, lại quá nhỏ so với số giáo dân Mỹ Tho. Phải nghĩ đến một ngôi nhà thờ lớn hơn — và ngài khởi sự từ tháng 7 năm 1905.
Bắt đầu từ tháng 1 năm 1906 khởi sự công việc làm móng ngôi nhà thờ mới. Một chi tiết mà ít người để ý: ngôi nhà thờ này nằm phía bên kia đại lộ Bourdais, đối diện ngôi nhà thờ cũ — nghĩa là nhà thờ Chánh Tòa hôm nay không đứng trên nền ngôi nhà thờ năm 1876, mà ở bên kia đường. Riêng việc xây móng kéo dài mãi đến năm 1907.
Năm 1907, những người Công giáo Mỹ Tho dâng một thỉnh nguyện thư lên Vị Đại Diện Tông Toà, trong đó họ cũng xin cho được phép xây dựng trong họ đạo một trường học — Trường Thánh Giuse — dành cho nam sinh dưới sự điều khiển của các Sư huynh Lasan.
Công trình khởi công tháng 1/1906 nhưng riêng phần móng kéo dài tới 1907, và cũng năm 1907 giáo dân dâng thỉnh nguyện thư lập trường. Giáo xứ lấy 1907 làm mốc chính thức thành lập, nên năm 2007 mừng Năm Thánh trăm năm — dịp Toà Ân Giải Tối Cao ban Ơn Toàn Xá và cũng là dịp đại trùng tu ngôi thánh đường.
Từ một họ đạo ven sông, ngôi thánh đường Mỹ Tho bước sang một chương mới hoàn toàn vào ngày 24 tháng 11 năm 1960, khi Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII ban hành Tông hiến lịch sử “Venerabilium Nostrorum”. Văn kiện này chính thức thiết lập Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Việt Nam, đồng thời khai sinh Giáo phận Mỹ Tho và nâng ngôi thánh đường lên hàng Nhà thờ Chính Tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
CONSTITUTIO APOSTOLICA “VENERABILIUM NOSTRORUM”
In Vietnamia, post diuturnos labores et praeclara martyrum testimonia, christiana religio ad tantam maturitatem pervenit ut hierarchia episcopalis ibidem canonice erigi possit. Quapropter, audito Venerabili Fratre Nostro S.R.E. Cardinali Sacrae Congregationi de Propaganda Fide Praefecto, Nostra Apostolica Auctoritate, constituimus et decernimus:
Tres Ecclesiasticas Provincias in Vietnamia erigimus: Hanoiensem, Huensem, et Saigonensem... Novas autem dioeceses erigimus, inter quas Dioecesim Mythoensem, cuius Ecclesiam Cathedralem constituimus sub titulo Immaculatae Conceptionis Beatae Mariae Virginis...”
Tại Việt Nam, sau những năm tháng lao nhọc trường kỳ và những chứng tá đức tin anh dũng rạng ngời của các bậc Tử Đạo, đạo Thánh Chúa Kitô nay đã đạt tới sự trưởng thành đức tin viên mãn để có thể chính thức thiết lập Hàng Giáo Phẩm Chính Tòa. Vì thế, sau khi lắng nghe ý kiến của Chư Huynh Đáng Kính là các Đấng Hồng Y thuộc Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, với Quyền Bính Tông Tòa Tối Cao, Ta thiết lập và chuẩn định: Thiết lập 3 Giáo Tỉnh tại Việt Nam gồm Hà Nội, Huế và Sài Gòn... Đồng thời thành lập các Giáo phận mới, trong đó có Giáo phận Mỹ Tho, và nâng ngôi thánh đường tại Mỹ Tho làm Nhà thờ Chính Tòa dâng kính tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.”
Ngôi thánh đường, vốn sinh ra từ gian truân — hạ rồi dựng, dựng rồi bão phá — nay bước vào thiên niên kỷ mới với hai mốc son đáng ghi nhớ. Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, ngày 21/01/2000, Đức Giám mục Giáo phận Phaolô Bùi Văn Đọc đã long trọng cử hành Lễ Cung Hiến Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho và chọn ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15 tháng 8) làm lễ Bổn mạng thứ hai của nhà thờ.
Sáu năm sau, đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày khởi công xây dựng, (Linh mục Trưởng Hạt Giáo hạt Mỹ Tho) đã xin ý kiến Đức Giám mục để trùng tu và nới rộng nhà thờ. Lễ khởi công được cử hành ngày 14/06/2006, gồm thay mái ngói, nới rộng hai bên hông nhà thờ, xây lại phòng thánh, cải tạo tháp chuông và đặt 14 chặng Đàng Thánh Giá xung quanh nhà thờ. Sau 9 tháng thi công, ngày 21/05/2007 Đức Giám mục Giáo phận đã dâng lễ tạ ơn và khai mạc Năm Thánh mừng kỷ niệm 100 năm xây dựng ngôi thánh đường.
Một chi tiết mà hai chương của quyển sách này để lộ ra khi đặt cạnh nhau, mà đọc riêng từng chương thì không thấy. Cha sở đứng ra xin trùng tu ngôi thánh đường năm 2006 và khai mạc Năm Thánh trăm năm năm 2007 là Cha Giacôbê Hà Văn Xung. Cũng chính ngài, vào mùa thu năm 2005 — trước lễ khởi công đúng tám tháng — đã đứng ra mở lớp huấn luyện Huynh Trưởng đầu tiên sau năm 1975, cho cả Giáo hạt Mỹ Tho, và đưa Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể trở lại giáo xứ sau ba mươi năm vắng bóng. Trong cùng hai năm ấy, một vị đã lo sửa cả phần xác lẫn phần hồn của ngôi nhà thờ: mái ngói và tháp chuông ở một bên, và ở bên kia là những đứa trẻ sẽ quàng khăn đứng trong lòng nhà thờ đó. Câu chuyện thứ hai là Chương IV.
Những bức ảnh dưới đây ghi lại diện mạo ngôi thánh đường và khuôn viên qua hơn một thế kỷ, từ thời Pháp thuộc đến trước ngày đại trùng tu năm 2006.
Ảnh tư liệu do giáo xứ cung cấp, trong đó chân dung các cha và Giấy Bổ Nhiệm 1998 chụp từ Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007); riêng bản khắc năm 1877 lấy từ tuần báo Les Missions Catholiques (Thư viện Quốc gia Pháp — Gallica, ark:/12148/bpt6k105617d, tr.595). Ảnh tư liệu về Ba Giồng và Giáo phận nằm trong bài Lịch sử Giáo Phận.
Nhấn vào tên linh mục để xem lý lịch đầy đủ. Niên hiệu và tiểu sử các vị thừa sai Hội Thừa Sai Paris được đối chiếu với hồ sơ lưu trữ của Viện Nghiên cứu Pháp – Á (IRFA).
Vì sao bảng này chỉ có mười mấy tên? Theo tài liệu chính thức của Giáo phận Mỹ Tho, từ năm 1866 đến 1960 — gần một trăm năm — họ đạo được hơn 80 linh mục hướng dẫn chăm sóc, trong đó khoảng 30 vị là linh mục thừa sai ngoại quốc, số còn lại là linh mục Việt Nam. Bảng dưới đây chỉ liệt kê các vị chánh sở, không phải toàn bộ linh mục phục vụ.
Lý do con số chênh nhau lớn như vậy: “vùng Mỹ Tho” thời ấy được hiểu là một địa hạt rộng, gồm các họ đạo Mỹ Tho, Bình Tạo, Điều Hoà, Vĩnh Tường, Thạnh Trị, Mỹ Chánh, mở rộng đến cả Kinh Điều và Bình Đại. Phần lớn trong hơn 80 vị ấy là các cha phó và các cha coi sóc những họ nhánh đó, chứ không phải chánh sở nhà thờ mẹ. Từ 1960 đến 2007, giáo xứ có thêm 20 linh mục phục vụ, trong đó 6 vị làm cha sở.
Báo cáo thường niên năm 1897 của Hội Thừa Sai Paris cho biết con số cụ thể: “My-tho est le chef-lieu d’un district qui compte près de 4.000 fidèles, 19 chrétientés, avec 8 prêtres pour les desservir” — Mỹ Tho là lỵ sở một địa hạt gần 4.000 giáo dân, 19 họ đạo, do 8 linh mục coi sóc. Tám vị cùng lúc, thay phiên nhau qua gần một trăm năm, chính là cách con số hơn 80 hình thành.
Số giáo dân qua các mốc: 28/01/1862 — 1.986 người (ghi nhận của Cha Renier); 1881 – 1882 — 3.651 người, gồm 330 người Âu châu và 3.321 người Việt Nam; 1897 — gần 4.000 giáo dân trong toàn địa hạt; năm 2017 — khoảng 3.600 giáo dân trong giáo xứ. Số người lớn được rửa tội mỗi năm tại địa hạt Mỹ Tho theo báo cáo thường niên: 206 (1885), 403 (1889), 402 (1891), 243 (1892), 214 (1893). Những khoảng thời gian còn thiếu tư liệu trong bảng được ghi rõ là chưa cập nhật thay vì suy đoán.
| STT | Thời Gian | Ảnh | Linh Mục Chánh Sở | Dấu Ấn Mục Vụ & Lịch Sử |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 1861 – 1865 | Cha sở tiên khởi. Coi sóc địa hạt Mỹ Tho từ 1861; năm 1863 chuyển sang địa hạt Cái Mơn, được đặt làm Phó Đại diện Tông tòa năm 1864 rồi trở lại Mỹ Tho, đến 1865 đi Thủ Dầu Một. Cộng đoàn Công giáo Mỹ Tho hình thành năm 1861 khi giáo dân các tỉnh miền Tây về đây lánh nạn bách hại; ngài quy tụ và dựng ngôi nhà thờ đầu tiên kính Thánh Phanxicô Xaviê. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 0682 — nguyên văn: "En 1861, il eut à diriger le district de Mi-tho ; en 1863, celui de Cai-mong. Nommé provicaire en 1864, il revint à Mi-tho, et, en 1865, il passa à Thu-dau-mot." | ||
| 2 | 1862 – 1864 | Kế nhiệm Cha Guillou, nhận nhiệm sở ngày 28/01/1862 khi họ đạo Mỹ Tho có 1.986 giáo dân. Chính bản tường trình ngài gửi Đức cha Lefebvre năm 1863 dẫn tới việc các Nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres đến Mỹ Tho năm 1864. Đầu năm 1864 ngài chuyển về Cái Mơn, dẫn theo các nữ tu Bãi Xan từng lánh nạn tại Mỹ Tho. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), trang 24 – 25 — "Cha Guillou rời Mỹ Tho và được thay thế bởi cha Gernot, ngài nhận nhiệm sở ngày 28 tháng 01 năm 1862". Tiểu sử theo hồ sơ lưu trữ IRFA 0794. Hai nguồn lệch nhau ở mốc rời Mỹ Tho: Kỷ yếu ghi ngài ở Mỹ Tho khoảng hai năm rồi đi Cái Mơn đầu năm 1864, còn hồ sơ IRFA ghi ngài được đặt về Cái Mơn ngay trong năm 1862. | ||
| 3 | 1864 – 1869 | Về Mỹ Tho năm 1864, giúp các Nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres lập cơ sở Thánh Nhi (Sainte-Enfance). Từ năm 1866 cùng Cha Marc phụ trách họ đạo. Khoảng 1869 chuyển hẳn về Vĩnh Tường — khi đó còn là họ nhánh của Mỹ Tho — và lập tại đó một bệnh viện bản xứ. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 0792 và bài cáo phó của Hội Thừa Sai Paris (Đức cha Colombert, thư ngày 11/02/1887) | ||
| 4 | 1866 – 1870 | Trước khi vào Nam Kỳ, ngài truyền giáo ở Nam Đàng Ngoài và phải lánh về Sài Gòn năm 1860 vì bách hại; tại đây ngài làm thông ngôn cho đoàn quân viễn chinh và các quan cai trị đầu tiên của thuộc địa. Phụ trách giáo xứ Mỹ Tho, ban đầu cùng Cha Lizé rồi sau đó một mình, với chức Phó Đại diện Tông tòa. Ngài xin được ân xá cho một số nghĩa quân; những người này về sau theo đạo và lập nên họ đạo An Đức. Suốt nhiệm kỳ ngài phải dâng lễ trong một nhà nguyện lợp lá vì công trình nhà thờ bị đình lại. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 0657 — nguyên văn: "De 1866 à 1870, il fut chargé d'abord avec Lizé, et ensuite seul, de la paroisse de Mi-tho"; và bài "Variétés: Mytho" trên Les Missions Catholiques 1877, tr.598 | ||
| 5 | 1870 – 1872 | Vốn có kiến thức kiến trúc, ngài tự vẽ đồ án, mua vật liệu, thuê thợ và nhiều khi cầm bay xây như một người thợ lành nghề, dựng lên ngôi nhà thờ thứ hai của họ đạo mà Cha Marc chỉ mới đặt được viên đá năm 1866. Ngã bệnh khi mặt tiền và cung thánh còn dang dở; Cha Moulins hoàn tất. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 0869 | ||
| 6 | 1873 – 1899 | Coi sóc họ đạo suốt 27 năm — nhiệm kỳ dài nhất trong lịch sử. Trong ba năm, ngài vừa lo kinh phí vừa tự làm thợ chạm, thợ mộc, thợ trang trí để hoàn tất ngôi nhà thờ Cha Sorel bỏ dở; tái lập họ đạo Xoài Mút và lập địa hạt Bình Đại. Năm 1899 được gọi về làm Chánh sở Nhà thờ Chánh Tòa Sài Gòn. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 1056 | ||
| 7 | 1899 – 1922 | Đặt viên đá đầu tiên ngày 11/08/1906 và khánh thành năm 1910 ngôi Nhà thờ Chánh Tòa hiện nay; xây trường của các Sư huynh Lasan, nội trú các Nữ tu Thánh Phaolô, nhà thờ Ngũ Hiệp. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 1502 và bài cáo phó của Hội Thừa Sai Paris năm 1922. Hồ sơ gốc viết tên là RENIER (không dấu); giáo dân Mỹ Tho quen gọi ngài là "Cố Gẫm". | ||
| 8 | khoảng 1922 – 1948 | Trước khi về Mỹ Tho, ngài dạy triết tại Chủng viện Sài Gòn, làm tuyên uý Dòng Kín Cát Minh (1899) rồi coi địa hạt Bãi Xan. Tại Mỹ Tho: đón Đệ tử các Sư huynh Lasan (1929); năm 1930 trường Sư huynh có 400 học sinh, trường Nữ tu Thánh Phaolô 300 nữ sinh; năm 1933 ghi nhận 642 người được rửa tội và lập ba họ đạo Bàn Hạn, Thược, Phú Vang — họ Phú Vang trao cho cha Tôma Kỳ. Mang bệnh ung thư vòm họng, ngài qua đời ngay tại nhiệm sở sau khi lãnh Xức Dầu trước mặt giáo dân và nói lời từ biệt cuối cùng. Nguồn: Hồ sơ lưu trữ IRFA 2241. Giáo dân Mỹ Tho quen gọi ngài là "Cố Bạch". | ||
| 9 | 1948 – 1960 | Kế nhiệm Cha Henri Bar, và là vị cha sở cuối cùng coi sóc Mỹ Tho khi nơi đây còn là một giáo xứ thuộc Giáo phận Sài Gòn. Năm 1958 cho dời quả chuông từ tháp bên hông nữ lên tháp cao bên nam. Nguồn: giaophanmytho.net (xác nhận ngài là cha sở năm 1958); niên hiệu 1948 – 1960 theo tư liệu giáo xứ | ||
| 10 | 1948 – 1949 | Vị thừa sai cuối cùng coi sóc họ đạo, và là người Bỉ chứ không phải người Pháp. Kế nhiệm Cha Bar sau khi vị này qua đời tại nhiệm sở năm 1948; nhiệm kỳ chỉ hơn một năm. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), trang 49 — ghi "René Detry (1948 – 1949)" kèm chân dung. Tiểu sử theo hồ sơ lưu trữ IRFA 3246. | ||
| 11 | 1959 – 1961 | Phục vụ họ đạo đúng vào khúc giao thời: Giáo phận Mỹ Tho được thiết lập ngày 24/11/1960 và nhà thờ được nâng lên hàng Chánh Tòa ngay trong nhiệm kỳ của ngài. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), trang 49, kèm chân dung. | ||
| 12 | 1960 – 1965 | Cha sở tiên khởi của Nhà thờ Chánh Tòa sau khi giáo phận được thành lập (1960). Đảm trách xây dựng Tòa Giám Mục, Nhà Tĩnh Tâm, Nghênh Đài Đức Mẹ và Nhà Cha Sở trong khuôn viên cạnh nhà thờ; thành lập Trường Tiểu học Thánh Giuse tại giáo xứ. Rời Chánh Tòa năm 1965; từ 1968 đến 1974 làm cha sở Giáo xứ Hạnh Thông Tây (Sài Gòn). Nguồn: giaophanmytho.net (cha sở tiên khởi Nhà thờ Chánh Tòa; bài Giáo xứ Bình Tạo cho biết Cha Phêrô Niềm kế nhiệm năm 1965) + gxhanhthongtay.net (cha sở Hạnh Thông Tây 1968 – 1974; ảnh chân dung lấy từ trang Các đời Cha xứ của giáo xứ này) | ||
| 13 | 1963 – 1998 | Nhận xứ ngay trước biến cố tháng 4/1975, giữ vững sinh hoạt phụng vụ qua giai đoạn biến động nhất. Đầu năm 1975 ngài cùng giáo dân mua một căn nhà lá làm nhà nguyện, đặt nền móng cho Họ đạo Tân Long; từ 1975 đến 1992 ngài cùng Cha Phêrô Trần Xuân Lộc và Cha Đôminicô Lê Văn Bền — đều thuộc Giáo xứ Chánh Tòa — phụ trách họ đạo Tân Long. Năm 1995 ngài chủ trì xây tháp chuông tách rời khỏi thánh đường: đặt viên đá 16/02/1995, khánh thành 30/11/1995. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), trang 49 — ghi "Giuse Nguyễn Văn Chúc (1963 – 1998)". Trang này trước đây ghi 1975 – 1999; nay sửa theo Kỷ yếu của chính giáo xứ. Khoảng thời gian ấy chồng lấn với Cha Ngô Văn Niềm (1965 – 1971) và Cha Micae Nguyễn Khoa Học (1960 – 1965), nên nhiều phần ngài phục vụ với tư cách cha phó trước khi làm chánh sở — Kỷ yếu ghi chung là "đã phục vụ Giáo xứ" chứ không phân định. | ||
| 14 | 1965 – 1971 | Trước đó là Cha Sở Giáo xứ An Đức (1959 – 1965), kiêm nhiệm cả họ đạo Bình Tạo. Về Chánh Tòa năm 1965, coi sóc họ đạo qua giai đoạn chiến sự ác liệt từ biến cố Mậu Thân 1968; giữ vững sinh hoạt phụng vụ và tổ chức công tác bác ái trợ giúp đồng bào di tản đổ về thành phố Mỹ Tho. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), trang 49 — ghi rõ "Phêrô Ngô Văn Niềm (1965 – 1971)" kèm chân dung. Trang này trước đây chép nhầm họ thành Nguyễn và kéo dài nhiệm kỳ tới 1975; nay sửa theo Kỷ yếu của chính giáo xứ. Mốc khởi đầu 1965 khớp với bài Giáo xứ Bình Tạo trên giaophanmytho.net. | ||
| 15 | 1998 – 2005 | Kế nhiệm Cha Giuse Nguyễn Văn Chúc, coi sóc họ đạo Chánh Tòa qua thời kỳ Đại Năm Thánh 2000 — dịp Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc cử hành Lễ Cung hiến Nhà thờ Chánh Tòa ngày 21/01/2000. Ngài nhận cùng lúc hai trọng trách theo Giấy Bổ Nhiệm ngày 18/05/1998. Nguồn: Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007) — chân dung và ảnh chụp nguyên văn Giấy Bổ Nhiệm ngày 18/05/1998. Trang này trước đây ghi nhiệm kỳ 1999 – 2005; nay sửa thành 1998 – 2005 theo chính văn thư bổ nhiệm. Danh sách GP Mỹ Tho 2009 ghi ngài là Tổng Đại Diện Giáo phận; giaophanmytho.net (03/2011) gọi ngài là "nguyên Tổng Đại Diện", sau coi sóc Giáo xứ Thủ Ngữ. | ||
| 16 | 2005 – nay | Thụ phong 27/06/1992, làm phó biệt cư họ đạo Tân Phước hai năm, du học Pháp về mục vụ giáo lý từ 1994, về Tòa Giám mục năm 1999 làm thư ký Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc và đặc trách giáo lý toàn giáo phận; sáu năm sau được trao giáo xứ Chánh Tòa. Chủ trì đợt trùng tu 100 năm (khởi công 14/06/2006, lễ tạ ơn 21/05/2007), xây Đài Đức Mẹ (2009) và Nhà Mục vụ Giáo xứ (2020). Nguồn: Tư liệu giáo xứ (thụ phong 27/06/1992; về Tòa Giám mục năm 1999, sáu năm sau được trao giáo xứ Chánh Tòa) + giaophanmytho.net (chủ trì trùng tu khởi công 14/06/2006; danh sách linh mục đoàn 2009 ghi ngài ở Chánh Tòa) |
Các Cha Phó xứ — bảng trên chỉ liệt kê hàng chánh sở. Theo Kỷ yếu 100 năm của giáo xứ, giữa thế kỷ XX còn có (1958 – 1983) và (1970 – 1984). Bài Gx. Tân Long trên giaophanmytho.net ghi hai ngài cùng Cha Giuse Nguyễn Văn Chúc phụ trách Giáo xứ Chánh Tòa giai đoạn 1975 – 1992.
Các Linh mục đã phục vụ họ đạo — ngoài hàng chánh sở kể trên, trong gần một trăm năm 1866 – 1960 còn hơn 80 linh mục nữa hướng dẫn chăm sóc họ đạo, khoảng 30 vị trong số đó là linh mục thừa sai. Đã tra được 20 vị từ văn khố Hội Thừa Sai Paris, mỗi tên kèm mã hồ sơ để tra cứu lại: Cha Phanxicô Isiđôrê Gagelin (quản các địa hạt Mỹ Tho, Vĩnh Long và Châu Đốc từ năm 1828; sau là vị tử đạo được tôn phong hiển thánh — IRFA 0342) · Cha Charles Gernot (về Mỹ Tho năm 1862, khi ấy là lỵ sở một địa hạt 2.300 giáo dân; bản tường trình ngài gửi Đức cha Lefebvre năm 1863 đưa tới việc các Nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres đến Mỹ Tho — IRFA 0794) · Cha Jean-Joseph Barou (coi họ đạo Thủ Ngữ gần Mỹ Tho trong cơn loạn tháng 12/1862 — IRFA 0738) · Cha Théodule Hamon (học tiếng Việt tại Mỹ Tho rồi quyền coi họ đạo; sang Ba Giồng tháng 02/1870. Chính ngài viết bài tường thuật cuộc bách hại Ba Giồng đăng năm 1882 — IRFA 1002) · Cha Jean Piault (khởi đầu sứ vụ tại Mỹ Tho tháng 6/1871 trước khi làm giáo sư Chủng viện Sài Gòn — IRFA 1078) · Cha Jules Leprince (lần lượt coi sóc các họ đạo Mỹ Tho, Thủ Dầu Một và Giồng Rùm — IRFA 1009) · Cha Émile Moreau (coi hai họ đạo Thủ Ngữ và Tân Xuân ngay ngoài Mỹ Tho, xây nhà thờ mới cho họ đạo — IRFA 1012) · Cha Eugène Faron (khởi đầu tại Mỹ Tho làm tuyên uý quân y viện; trở lại Mỹ Tho năm 1882 và tiếp tục coi sóc quân y viện — IRFA 1189) · Cha Adrien Launay (cha phó kiêm tuyên uý quân y viện Mỹ Tho hai năm 1878 – 1879; về sau là sử gia của Hội Thừa Sai Paris — IRFA 1325) · Cha Jacques Hirbec (Đức cha Colombert đặt làm tuyên uý quân y viện Mỹ Tho năm 1879; sau một thời gian dưỡng bệnh lại trở về chính nhiệm sở này — IRFA 1061) · Cha Alphonse Thévenin (trông coi một công trình xây dựng lớn tại Mỹ Tho — IRFA 1761) · Cha Joseph Guillot (lâm bệnh nặng trên đường về Sài Gòn và qua đời tại Mỹ Tho ngày 27/6/1894 — IRFA 1686) · Cha Victor Quinton (được chỉ định lập cơ sở mới tại An Đức, vùng phụ cận Mỹ Tho — IRFA 1880) · Cha Ernest Hay (coi sóc An Đức cùng bốn họ đạo tách từ địa hạt Mỹ Tho, làm nguồn nuôi Trường Giáo Lý Viên — IRFA 1987) · Cha Henri Hay (phụ tá rồi kế nhiệm anh mình tại Trường Giáo Lý Viên An Đức — IRFA 2126) · Cha Jean Benoit (được đặt tại Tân An, một họ đạo thuộc địa hạt Mỹ Tho — IRFA 1844) · Cha Joseph Villeneuve (năm 1910 chứng kiến phong trào trở lại đạo tại địa hạt Mỹ Tho, sáu bảy họ đạo mới hình thành dọc sông Tiền — IRFA 2520) · Cha Marcel Piquet (học tiếng Việt tại Mỹ Tho và ở tại một họ nhánh của Mỹ Tho; về sau là Giám mục Nha Trang — IRFA 3141) · Cha René Detry (được Đức cha Cassaigne cho chọn giữa Đà Lạt và Mỹ Tho; ngài chọn Mỹ Tho và làm cha sở tại đây — IRFA 3246) · Cha Robert Seminel (cuối năm 1943 làm cha sở họ đạo cổ Thủ Ngữ, cách Mỹ Tho tám cây số; trải qua thời kỳ quân đội Nhật chiếm đóng Mỹ Tho — IRFA 3365).
Các Đức Giám mục có dấu ấn trực tiếp trên họ đạo: Đức cha Dominique Lefebvre (Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong, nhận bản tường trình năm 1863 của Cha Gernot về nhu cầu của họ đạo Mỹ Tho) · Đức cha Jean-Claude Miche (đặt viên đá đầu tiên ngôi nhà thờ thứ hai năm 1866 — IRFA 0423) · Đức cha Isidore Colombert (làm phép ngôi nhà thờ thứ hai ngày 12/03/1876; đặt các cha tuyên uý quân y viện Mỹ Tho — IRFA 0830) · Đức cha Lucien Mossard (điều Cha Moulins về Sài Gòn và cử Cha Renier về Mỹ Tho năm 1899; dưới thời ngài các Sư huynh Lasan lập trường và nội trú tại Mỹ Tho — IRFA 1299). Xem thêm tiểu sử đầy đủ các Đức Giám mục tại trang Giáo Phận.
Khoảng 50 linh mục Việt Nam từng phục vụ họ đạo chưa có nguồn số hoá công khai — tên các ngài nằm trong sổ bộ họ đạo và văn khố Tòa Giám mục; trang này để trống còn hơn ghi sai tên người đã phục vụ.
- Bản báo cáo viết tay của Cha Renier, lưu trữ tại Toà Tổng Giám mục TP. Hồ Chí Minh; cgvdt.vn — Dấu ấn họ đạo Chánh tòa Mỹ Tho theo dòng lịch sử.
- Kỷ yếu Mừng Năm Thánh 100 năm Nhà thờ Chánh Tòa Mỹ Tho (1907 – 2007), ấn hành 2007.
- Les Missions Catholiques, tuần báo, Lyon, 1877, tr. 595 & 598 — bản khắc mặt tiền nhà thờ. Gallica (BnF), ark:/12148/bpt6k105617d.
- IRFA (Viện Nghiên cứu Pháp–Á) — hồ sơ thừa sai: Guillou (#0682), Sorel (#0869), Moulins (#1056), Renier (#1502), Bar (#2241).
- Tông hiến Venerabilium Nostrorum, Gioan XXIII, 24/11/1960; Acta Apostolicae Sedis 53 (1961), tr. 346–348.
- giaophanmytho.net — Lịch sử Khai Sinh Giáo Phận, soạn 03/2009 cho Kỷ Yếu Năm Thánh 2010 HĐGMVN.
- Báo cáo thường niên Hội Thừa Sai Paris (MEP), 1897: lưu trữ tại IRFA.
Giờ phụng vụ tại Nhà Thờ Chính Tòa Mỹ Tho được cử hành đều đặn mỗi ngày. Bảng dưới đây đồng bộ trực tiếp với lịch giờ lễ của Giáo phận: Ban Phụng Vụ sửa giờ ở mục Giờ Lễ thì trang này đổi theo ngay, không cần đăng lại.
Thông tin chi tiết về các vị linh mục đã phục vụ tại Giáo xứ hoặc có những đóng góp to lớn cho cộng đoàn nhưng không giữ cương vị Chánh sở.
Nguồn tra cứu của toàn bộ bản khảo cứu — kèm mã hồ sơ lưu trữ và cả những chỗ đã tìm mà không thấy — được ghi chi tiết ở trang Tư liệu tham khảo.










